Đăng ký | Đăng nhập

Email / Điện thoại

Mật khẩu

Nhớ mật khẩu | Quên mật khẩu

http://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vNhttp://Taochu.Uhm.vN
Chinhtrihoc.vn là website cá nhân của GS.TSKH Phan Xuân Sơn. Trang chinhtrihoc.vn là một trang web khoa học, nơi kết nối các nhà khoa học, những ai yêu thích, tâm huyết với việc nghiên cứu khoa học chính trị. Trang web ra đời nhằm góp phần vào sự phát triển khoa học chính trị nước nhà nói riêng, sự phát triển đất nước nói chung. Trang web được đăng ký và hoạt động theo pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chỉ các thành viên mới được đăng bài. Chịu trách nhiệm nội dung: GS.TSKH Phan Xuân Sơn. Hỗ trợ web: KS.CNTT Phạm Thị Ngọc Thanh ☏ 0866772894

Văn hóa, hội nhập Quốc tế và phát triển - GS,TSKH Phan Xuân Sơn

Văn hóa, hội nhập Quốc tế và phát triển - GS,TSKH Phan Xuân Sơn

Để làm chủ quá trình hội nhập quốc tế như là một quá trình phát triển trong xã hội hiện đại, cần hiểu được các giá trị, các chuẩn mực chung, hiểu được sự tác động qua lại giữa những yếu tố của văn hóa chung (hội nhập) và văn hóa quốc gia-dân tộc, hệ quả của sự tác động đó trong phát triển trên thế giới và trong từng quốc gia.

Mục lục bài viết

1095

Để làm chủ quá trình hội nhập quốc tế như là một quá trình phát triển trong xã hội hiện đại, cần hiểu được các giá trị, các chuẩn mực chung, hiểu được sự tác động qua lại giữa những yếu tố của văn hóa chung (hội nhập) và văn hóa quốc gia-dân tộc, hệ quả của sự tác động đó trong phát triển trên thế giới và trong từng quốc gia. Vấn đề hội nhập quốc tế ở Việt Nam đã được đặt ra và nghiên cứu từ những năm cuối thế kỷ XX, được coi là một quá trình tất yếu của phát triển, trong đó có cả cơ hội và thách thức. Hội nhập quốc tế ở Việt Nam trước hết được đặt ra là hội nhập trong hệ thống xã hội chủ nghĩa và sau đó là hội nhập toàn cầu.

          Xét về tổng thể, một quốc gia “chủ động và tích cực hội nhập”, “là bạn là đối tác tin cậy với tất cả các nước”, là “quốc gia có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” như Việt Nam, không thể tách ra, chỉ hội nhập trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ, mà không hội nhập về chính trị, văn hóa...Xu hướng phát triển của thế giới ngày nay đã bác bỏ cách hội nhập như vậy. Quá trình hội nhập là một quá trình hai chiều: tuân thủ và sáng tạo, bị động và chủ động, và cuối cùng là mỗi quốc gia đều góp phần sáng tạo ra, làm giàu thêm cho văn hóa hội nhập nói chung và là giàu thêm văn hóa dân tộc nói riêng trong xu thế phát triển chung của quốc gia và nhân loại. Giao lưu và hội nhập văn hoá giữ vai trò hết sức quan trọng đối với văn hoá của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc: Không có một nền văn hoá nào, dù lớn và có ảnh hưởng sâu rộng đến đâu, lại có thể phát triển trong khép kín, biệt lập, tách rời với các nền văn hoá khác. 

Ngày nay, Việt Nam đang chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nhưng hội nhập quốc tế trong tất cả các lĩnh vực kể cả văn hóa nói chung, văn hóa chính trị nói riêng có hai mặt, mặt tích cực và mặt tiêu cực. Mặt tích cực là sẽ giúp cho văn hoá mỗi dân tộc (theo nghĩa quốc gia - dân tộc) luôn phát triển, tiếp nhận được những giá trị tiến bộ của văn hoá các dân tộc khác, làm giàu thêm cho văn hóa của dân tộc mình, quảng bá được văn hoá của mình cho các dân tộc khác. Tuy nhiên, mặt tiêu cực là nguy cơ san bằng và đồng nhất các hệ giá trị, các chuẩn mực văn hóa dân tộc, đe doạ và làm suy kiệt sự phong phú, khả năng sáng tạo của các nền văn hoá dân tộc, dẫn đến nguy cơ tha hoá, vong bản, thậm chí thủ tiêu các giá trị văn hoá dân tộc.  

        Cho đến nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đang đương đầu với nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế. Nhưng nguyên nhân tụt hậu kinh tế không chỉ nằm trong kinh tế mà còn nằm trong chính trị, ngoại giao và đặc biệt là trong văn hóa; thậm chí nguyên nhân quan trọng nhất lại nằm trong văn hóa-văn hóa hội nhập. Không có văn hóa hội nhập, không thể hội nhập thành công. Cũng như trong các lĩnh vực khác, trong hội nhập quốc tế, văn hóa cũng “soi đường cho quốc dân đi”. Vậy văn hóa hội nhập là gì? Trong bối cảnh, khi các quốc gia đóng vai trò chủ thể của quá trình hội nhập, văn hóa có vai trò như thế nào? Cơ chế nào, yếu tố nào tác động lên sự phát triển văn hóa và phát triển nói chung của một dân tộc trong bối cảnh hội nhập?

        Nói đến hội nhập, là nói đến một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, hợp tác, cạnh tranh và đấu tranh với nhau. Trong bối cảnh đó, làm sao để đảm bảo sự toàn vẹn chủ quyền quốc gia, đảm bảo nền độc lập và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; làm sao để chủ quyền không bị xói mòn, văn hóa không bị đồng hóa, tâm lý không bị tổn thương? Ở đây, một mặt phải có cách tiếp cận mới về độc lập, chủ quyền, bản sắc và các giá trị văn hóa. Mặt khác cần thấy rằng, chủ quyền và bản sắc của quốc gia dân tộc không chỉ cần được phát huy, mà còn chủ động, tích cực tham gia định hình các giá trị, các chuẩn mực văn hóa hội nhập đối với các khu vực và toàn cầu. Nói cách khác là xây dựng một “quyền lực mềm” của quốc gia trong các quan hệ quốc tế và toàn cầu. Vậy những giá trị gì, chuẩn mực gì Việt Nam có thể góp vào văn hóa hội nhập của khu vực và thế giới? Làm thế nào để có thể mang những giá trị, những chuẩn mực ấy của Việt Nam đến với thế giới?           

        Những năm gần đây, xuất hiện sự bùng nổ về nhu cầu nghiên cứu văn  hóa nói chung, văn hóa chính trị nói riêng. Điều đó vừa phản ảnh vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội, vừa báo động về một trạng thái thiếu vắng, không đủ “văn hóa” trong lúc những chuyển biến kinh tế-xã hội quá nhanh, đã tạo ra  những “khoảng trống văn hóa” lớn trong đời sống chúng ta ở rất nhiều lĩnh vực, kể cả những lĩnh vực tưởng như đã định hình. Quá trình toàn cầu hóa cũng là nguy cơ làm mai một bản sắc văn hóa dân tộc. Sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống tiếp tục diễn biến phức tạp, có một số mặt nghiêm trọng hơn, tổn hại không nhỏ đến uy tín của Đảng và Nhà nước, niềm tin của nhân dân, làm chậm quá trình phát triển của đất nước. Việc xây dựng và phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa tạo ra được sự chuyển biến rõ rệt... Nhiều nỗ lực từ phía Đảng, Nhà nước và xã hội để giải thích nguyên nhân và ngăn chặn đà “suy thoái” này. Nhưng thực tế cho thấy, vấn đề chưa được nhìn nhận và giải quyết tích cực, hiệu quả.  

Hiện đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa. Hiện nay, số lượng định nghĩa về văn hóa khó có thể thống kê chính xác được. Có thể là 400, có thể là 500, có người cho rằng chúng lên đến con số nghìn.[1]

        Hầu hết các tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều cho rằng, khái niệm “văn hóa” cần được hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Quan niệm theo nghĩa rộng coi văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển của mình. Trong lúc đó, quan niệm theo nghĩa hẹp coi văn hóa chỉ là những hoạt động liên quan đến đời sống tinh thần, những quan hệ xã hội và những sáng tạo giá trị nghệ thuật. Theo cách đó, GS.TS Ngô Đức Thịnh (2014) cho rằng, cấu trúc của khái niệm văn hóa, gồm “giá trị văn hóa” – và đây là cốt lõi của văn hóa, “bản sắc”, “di sản”, “biểu tượng” và “chuẩn mực văn hóa”.[2] Nhiều tác giả khác lại chia giá trị văn hóa theo giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị vật thể, phi vật thể.

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm (2014) đưa ra một cấu trúc văn hóa khá phức tạp với bốn loại “giá trị”: con người, hoạt động, sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần; và ba” phương diện”: tĩnh / động; văn hóa vật chất / văn hóa tinh thần; văn hóa vật thể / văn hóa phi vật thể; bốn “đặc trưng” cơ bản là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử[3]. Cách tiếp cận này, chúng ta thấy khá tương đồng với cách tiếp cận của GS.TS Nguyễn Văn Huyên (2009)[4]

Một cách tiếp cận về cấu trúc của văn hóa mới được Texas University công bố tháng 5-2015, có thể đã phản ánh được những thành tựu nghiên cứu ở phương Tây hiện đại, không mâu thuẫn với các tiếp cận của các nhà khoa học Việt Nam, lại có ưu điểm khá dễ hiểu, dễ nghiên cứu. Đó là chia cấu trúc khái niệm văn hóa thành mức độ (các tầng) “sâu”, “nông” và các “cấp độ”[5]. Theo cách tiếp cận này, cấu trúc của văn hóa có các tầng sau: 

Ở tầng sâu nhất: Các giá trị (values). Từ trong đó các giá trị, hình thành nên các cốt lõi của một nền văn hóa.    

Tầng thứ hai: Các nghi thức (rituals). Là các chuẩn mực hoạt động tập thể, được coi là cần thiết trong xã hội. Từ cách chào hỏi, các dạng giao tiếp, các nghi lễ tôn giáo và xã hội, v.v).

Tầng thứ ba: Các nhân vật-anh hùng (Heroes). Là những nhân vật quá khứ hay hiện tại, thực hay hư cấu, có đặc điểm được đánh giá cao trong một nền văn hóa. Họ tồn tại như là mô hình cho hành vi.

Tầng thứ tư: Các biểu tượng (simbols). Là lời nói, cử chỉ, hình ảnh, hoặc các vật mang một ý nghĩa đặc biệt, được công nhận bởi những người chia sẻ một nền văn hóa cụ thể. Biểu tượng mới dễ dàng phát triển, những cái cũ biến mất. Biểu tượng từ một nhóm cụ thể thường xuyên được sao chép bởi người khác. Đây là lý do tại sao các biểu tượng đại diện cho lớp ngoài cùng của một nền văn hóa.

Biểu tượng, anh hùng, và nghi thức là những khía cạnh hữu hình, ghi lại cách các thực hành của một nền văn hóa. Tuy vậy, ý nghĩa văn hóa thực sự của thực hành này lại là phi vật thể. Biểu tượng đại diện cho bề ngoài nhất và giá trị các biểu hiện ở tầng sâu sắc nhất của văn hóa, các anh hùng và các nghi lễ ở tầng giữa.

Cấu trúc văn hóa theo “cấp độ” (có thể coi là quy mô) như: Cấp quốc gia, cấp độ vùng, cấp độ giới, cấp độ thế hệ, cấp độ tầng lớp xã hội, cấp độ công ty…Nhiều tác giả cũng đã đề cập đến tiếp cận lịch sử văn hóa, từ lịch đại đến đồng đại…Khi nói về nội hàm văn hóa, các nhà nghiên cứu không bao giờ bỏ qua yếu tố con người [Nguyễn Văn Huyên (2010), Trần Ngọc Thêm (2013)…]. Tuy nhiên trong các nghiên cứu các “ngành” văn hóa cụ thể, như “văn hóa chính trị”, “văn hóa ứng xử”, “văn hóa học đường”…con người được nghiên cứu như là một chủ thể văn hóa hoặc tách ra thành một đối tượng riêng, như “con người chính trị” chẳng hạn.  

        Văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

          Ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nghiên cứu phát triển văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một đề tài hấp dẫn thu hút nhiều nhà nghiên cứu văn hóa. Qua các công trình nghiên cứu, có thể khẳng định rằng:

        Thứ nhất: Tất cả các nghiên cứu về văn hóa trong bối cảnh hội nhập toàn cầu đều khẳng định tính tất yếu của hội nhập và Việt Nam tham gia vào quá trình hội nhập với thế giới trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có văn hóa là đòi hỏi khách quan, cho dù đó là một quá trình phức tạp của sự phát triển. Ngày nay, nói đến hệ quả của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, không chỉ nói đến một khuynh hướng không đảo ngược được, mà còn phải nói đến những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập, “các vấn đề toàn cầu” đầy bế tắc, “một thách thức nghiêm trọng đối với văn hóa” (Hà Bình Mạnh-2005)[6]. Trong bối cảnh đó, một lối thoát mà người ta trông cậy vào văn hóa, đưa ra “một chiều kích văn hóa của sự phát triển như một con đường khả thi để phá tan sự bế tắc này” (Ioanna Kucurradi – 2014)[7] và người ta cho rằng đây là “quan niệm mới về phát triển”[8].

 Nói đến hội nhập là nói đến nhiều chủ thể tham gia vào những quá trình “sống chung”. Trong quá trình đó, không thể chỉ có đồng thuận mà còn có cả mâu thuẫn, xung đột trên nhiều phương diện và cấp độ khác nhau. Cách thức để quản lý và giải tỏa các mâu thuẫn và xung đột, chỉ có thể là văn hóa- văn hóa “hòa giải”, văn hóa “bao dung”. Chính vì thế, những năm đầu thế kỷ XXI, khi xu hướng hội nhập trở nên sâu rộng, “ngoại giao hòa giải”, “quyền lực mềm” đã và đang trở thành chiến lược rõ ràng trong quan hệ quốc tế. Hội nhập thành công, khi thước đo của nó không chỉ ở một vài phương diện như kinh tế và công nghệ mà phải đo bằng sự thành công của hội nhập văn hóa. Vì vậy, trước hết trong hội nhập cần khẳng định vai trò đặc biệt không thể thiếu của văn hóa. Để làm được điều đó, các nhà nghiên cứu quan tâm trước hết là tư duy về văn hóa, đặc biệt là tư duy lãnh đạo của Đảng, tư duy quản lý của Nhà nước, tư duy trong văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp cũng như tư duy của từng con người, đã tự ý thức hoặc buộc phải trở thành “công dân toàn cầu”.  Một đặc trưng nổi trội của văn hóa là giao lưu và tiếp biến; theo đó, tác động qua lại và chịu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền văn hóa, tiếp nhận các giá trị văn hóa bên ngoài, biến đổi nó cho phù hợp và dần trở thành cái của mình, làm phong phú thêm vốn văn hóa của mình là hiện tượng có tính quy luật (Vũ Minh Giang, 2015). “Giao lưu, ảnh hưởng, vay mượn còn là một nhân tố quan trọng trong quy luật truyền thống và đổi mới của văn hoá: Truyền thống (tradition) - Tiếp biến (tiếp nhận - biến đổi - accuturation), Đổi mới (renovation)” (Ngô Đức Thịnh, 2013)”. Nguyễn Mạnh Cầm (2014) viết: Trong hội nhập, giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc là quan trọng, bởi bản sắc văn hóa chính là cái làm cho dân tộc không là cái bóng của dân tộc khác. Song, giữ gìn bản sắc không loại trừ sự tiếp biến văn hóa; văn hóa dân tộc phải hội lưu với văn hóa nhân loại, rồi theo dòng chảy của nó mà tiếp thu những cái "chân - thiện - mỹ" của các nền văn hóa trên thế giới để bồi đắp cho văn hóa bản địa[9].

          Thứ hai: Để hội nhập thành công, văn hóa Việt Nam cần tiếp biến những giá trị văn hóa thế giới. Nhưng tiếp biến văn hóa thế giới như thế nào? Chúng ta thấy rằng ở cấp độ đời thường cũng như tư duy chính sách đều có tranh luận, thậm chí gay gắt, xuất hiện các xu hướng “cấp tiến”, “bảo thủ” hay “trung dung”. Tuy chưa thật sự rõ ràng và thuyết phục, nhưng một số nghiên cứu đã bước đầu chỉ ra “cơ chế tiếp biến” nền văn hóa thế giới. GS TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng, cần thực sự cầu thị và khoa học trong tư duy, tránh căn bệnh giáo điều, để hội nhập, phải cùng lúc “trở về” với dân tộc nhiều hơn theo phương châm “Tư duy toàn cầu, hành động địa phương” (Think globally, act locally). Ở một góc độ khác, GS.TS Đỗ Huy (2013) cho rằng cần nhận diện những xung đột, mâu thuẫn và những cản trở trên con đường giải phóng, hội nhập để phát triển văn hóa Việt Nam[10].

        Thứ ba: Vấn đề đặt ra, không chỉ tiếp biến văn hóa nhân loại, không chỉ “cùng lúc trở về với dân tộc nhiều hơn”, mà Văn hóa Việt Nam  có thể đóng góp những giá trị văn hóa đặc sắc gì của mình vào kho tàng văn hóa chung của nhân loại? Văn hóa Việt Nam có đủ tầm vóc, bản lĩnh, tự tin để tham gia định hình những giá trị chung trong văn hóa hội nhập của Nhân loại? Và nếu chúng ta vốn có một nền văn hóa có đủ tầm vóc, thì chúng ta có thể làm gì để làm điều đó? Chúng ta phải làm gì để có “quyền lực mềm” trong hệ thống quyền lực toàn cầu?

        Trong lúc nhân loại còn chưa nhận thức hết những thách thức của hội nhập toàn cầu (gần đây xuất hiện những vấn đề an ninh “phi truyền thống”, khủng bố, di cư…) thì cho dù “phát triển văn hóa” được nêu lên như là một giải pháp toàn cầu để khắc phục những vấn nạn của toàn cầu hóa, của những vấn đề toàn cầu, nhưng bản thân khái niệm này cũng được hiểu quá khác nhau từ “hợp tác phát triển về văn hóa” đến “chống lại văn hóa phương Tây”; nó đặt ra vấn đề “bản sắc” văn hóa so với “bản đối chiếu văn hóa phương Tây và châu Âu”… Từ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, mỗi chủ thể hội nhập đã bắt đầu đặt ra vấn đề “giá trị cốt lõi” trong văn hóa của mình, “bản sắc văn hóa”, “văn hóa quốc gia” và “khủng hoảng giá trị văn hóa”. Điều này đưa đến mâu thuẫn giữa những “văn hóa quốc gia”, “văn hóa tôn giáo”, “văn hóa vùng” và giữa những “giá trị cốt lõi” và những “giá trị không cốt lõi”. Trangott Schoefthaler[11] dùng khái niệm “xung đột văn hóa” và “đối thoại văn hóa” như là những khái niệm phổ biến của thời đại toàn cầu hóa và đa dạng văn hóa ngày nay. Ông chỉ ra các yêu cầu chung của của hội nhập văn hóa, như: Tính đa dạng văn hóa, quyền khác biệt, sự chồng chéo giữa các yếu tố tình cảm và nhận thức của các quan hệ văn hóa quốc tế, tự do ngôn luận[12]

        Tuy nhiên tồn tại nhiều lý thuyết giải thích hiện tượng toàn cầu hóa và hội nhập với tiếp cận văn hóa học, như “xung đột văn hóa”, “xâm lăng văn hóa”, “liên văn hóa”, “đồng nhất văn hóa”, “văn hóa toàn cầu”…Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, các lý thuyết cũng đem đến cho nhân loại cảm nhận rằng, bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa đã và “đang phá vỡ giới hạn vốn có, đang phát triển trong tác động và ảnh hưởng lẫn nhau trên phạm vi toàn cầu. Trong điều kiện mở cửa, hội nhập và môi trường mạng toàn cầu, sự ảnh hưởng lẫn nhau, cùng chung sống cạnh tranh và chia sẻ với nhau của các nền văn hóa khác nhau đang không ngừng gia tăng”[13]. Chính từ đây, xuất hiện một khái niệm mới cần phải thừa nhận trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập, đó là chính bản thân hội nhập quốc tế là một giá trị văn hóa mới, thậm chí là một giá trị “văn hóa cốt lõi” của nhân loại và của mỗi quốc gia.

        Tính tất yếu của hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đặt ra nhiều vấn đề về phát triển văn hóa của từng quốc gia, dân tộc; buộc họ “phải lựa chọn cho mình một thái độ ứng xử, một chính sách phát triển về văn hóa để đạt tới mục tiêu phát triển chung”.[14] Những ý kiến như vậy là đúng và có ý nghĩa phương pháp luận, đặc biệt là đối với tư duy phát triển, tư duy hoạch định chính sách. 

        Sự hội nhập quốc tế đã đưa đến sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa, văn minh. Vì vậy, xuất hiện các dự báo về xung đột giữa các nền văn minh[15]. Huntington (1996) dự đoán rằng, nguồn gốc xung đột trong thế giới mới không còn là hệ tư tưởng và kinh tế nữa, mà là văn hóa. Ông cho rằng văn hóa là cơ sở của các nền văn minh và khẳng định “Sự xung đột giữa các nền văn minh sẽ là nhân tố chủ đạo của chính trị thế giới”.[16] Hậu quả của xung đột giữa các nền văn minh như thế nào, nếu để xung đột diễn ra chỉ theo chiều hướng tiêu cực? Nhiều nghiên cứu vượt qua những sợ hãi của chủ nghĩa khủng bố, vượt qua những dự báo bi quan về xung đột, chia rẽ vẫn quảng bá cho một khuynh hướng chung lớn của nhân loại là “Đối thoại giữa các nền văn hóa”, ủng hộ Tuyên bố của UNESCO về đa dạng văn hóa, coi đa dạng văn hóa như “di sản chung của nhân loại”, coi “việc bảo vệ tính đa dạng văn hóa là chỉ lệnh đạo đức” và có ý nghĩa không kém gì Tuyên bố chung về các quyền con người”. Nhiều nghiên cứu hi vọng sự đối thoại giữa các nền văn minh sẽ đưa đến “sự kết tụ tâm hồn phương Đông và lý tính của phương Tây”, sẽ đạt tới “sự hiểu biết lẫn nhau mang tính lịch sử” và “bằng cách đó, đảm bảo hòa bình và công lý trên toàn thế giới” (Khatami, 2001). Những quan điểm tương tự cũng có thể gặp trong các nghiên cứu của Jakhnhin V.I, Karnash G.J, Philipmonov G.J, Hà Bình Mạnh và nhiều người khác[17].

        Tuy nhiên vấn đề đặt ra là ở chỗ tạo dựng một nền văn hóa mới trên phạm vi toàn cầu thế nào để thích ứng với các quá trình phức tạp của hội nhập? Như vậy, phải chăng văn hóa trong hội nhập quốc tế, đang phải đảm nhận một chức năng mới, chức năng giải tỏa xung đột văn hóa và liên kết văn hóa, làm cơ sở, “dẫn đường” cho hội nhập kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác? Đó là vấn đề đang tranh luận trong giới học giả, và các chính trị gia trên khắp thế giới và Việt Nam.

Thứ tư: Các nghiên cứu cũng đã nêu lên những thành tựu, những yếu kém và thách thức trong phát triển văn hóa Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế[18].

Thứ năm: Các nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Xin tóm lược như sau:

- Phải từ bỏ cách nhìn coi văn hóa là phép cộng đơn thuần của bảy lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức và lối sống; giáo dục và khoa học; văn học và nghệ thuật; thông tin đại chúng; giao lưu văn hóa với nước ngoài; thể chế văn hóa; thiết chế văn hóa. 

- Phải tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. 

- Phải xác định được một hệ giá trị cho văn hóa Việt Nam hiện tại và tương lai.

- Đảm bảo văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, một nền nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất mà đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ, khoa học.

- Tư duy toàn cầu, hành động địa phương.

Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ 12 đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa, đã chú trọng hơn vai trò văn hóa trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, giai đoạn chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đại hội đã đề ra các phương hướng, nhiệm vụ: Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.  Xây dựng văn hoá trong chính trị và kinh tế.  Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hoá.  Phát triển công nghiệp văn hoá đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hoá. Chủ động hội nhập quốc tế về văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hoá[19]

 GS.TSKH Phan Xuân Sơn


[1]Xem thêm:  https://en.wikipedia.org/wiki/Culture/   http://www.livescience.com/21478-what-is-culture-definition-of-culture.html/

https://www.tamu.edu/faculty/choudhury/culture.html/ Trần Ngọc Thêm (2014); Ngô Đức Thịnh (2014); Nguyễn Văn Huyên (2007)…

[2] GS.TS Ngô Đức Thịnh: Giá trị văn hóa Việt Nam, truyền thống và biến đổi, Nxb.CTQG, H, 2014, tr.

[3] GS TSKH Trần Ngọc Thêm: Những vấn đề văn hóa học, lý luận và ứng dụng, Nxb. Văn hóa-Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr. 54

[4]  Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh: Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị truyền thống Việt Nam, Nxb. CTQG, H, 2009. Các tác giả coi văn hoá là một chỉnh thể sống động bao gồm toàn bộ giá trị (vật chất, tinh thần), phương thức sống (từ ý tưởng cho đến hành vi hoạt động, từ trình độ hoạt động cho đến phương thức hoạt động) và trình độ phát triển ngừời (hoàn thiện các phẩm chất con người).

[5] Culture definition: https://www.tamu.edu/faculty/choudhury/culture.html

 

[6] Mười một điểm nóng lý luận đang tranh luận, Nxb. Văn hiến khoa học xã hội, Trung Quốc, 2005

[7] Ioanna Kucurradi: Triết học luận về sự phát triển văn hóa, trong cuốn: Phát triển văn  hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Nxb. Lý luận Chính trị, H, 2014, tr.15.

[8] Ioanna Kucurradi: Đã dẫn

[9] Nguyễn Mạnh Cầm: Phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Nhân dân điện tử, Chủ nhật, 06/07/2014  

[10] Xem Thêm: GS. TS Đỗ Huy: Văn hóa Việt Nam trên con đường giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển, Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2013

[11] Ioanna Kucurradi, Trangott Schoefthaler: Phát triển văn  hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Nxb. Lý luận Chính trị, H, 2014, tr.24; tr.89; tr. 94

[12] Đã dẫn.

[13] GS. TS Tạ Ngọc Tấn: Phát triển văn  hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới, Nxb. Lý luận Chính trị, H, 2014, tr.9.

[14] GS. TS Tạ Ngọc Tấn: Đã dẫn

[15] Huntinton S: The Clash of Civilizations and the Remarking of  World Order, N.Y., 1996

[16] Đã dẫn, tr.105

[17] Nghiên cứu chính trị (tiếng Nga) số 5-2012; Ersov B. Những cơ sở tinh thần và quá trình phát triển nền văn minh Nga, M,1996; Nguyên Tổng Thư ký Liên hợp quốc, Kofi Annan (2001); Nguyên  Thủ tướng Áo (2010) Bài phát biểu tại Hội nghị chính trị thế giới.

[18] Xem thêm: Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2013 và kết quả 3 năm thực hiện kế hoạch 5 năm 2011-2015 trình bày tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII, ngày 21-10-2013

[19] Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ 12, đã được Đại hội thông qua

Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
06-01-2021

Đánh giá

images5342607_my_video_moi3
ba_sche57b288a-ab22-4b92-a4a5-0f3b2fd4cdeb85e2ebd4-b773-4e04-8350-ade5b8771f57
image001
vieclamiaict
Lượt truy cập
Đang truy cập: 4
Trong ngày: 21
Trong tuần: 316
Lượt truy cập: 359327
Lên đầu trang